Sàn mái bê tông ở Việt Nam rất dễ xuống cấp nếu chống thấm làm qua loa. Ban ngày nắng gắt, mặt sàn hấp nhiệt mạnh; chiều tối gặp mưa, bê tông co lại nhanh. Cứ lặp như vậy vài tháng là bắt đầu có nứt chân chim, nứt mép cổ ống, nứt dọc chân tường bao. Lúc mới xuất hiện, vết nứt nhỏ như sợi tóc nên nhiều chủ nhà bỏ qua. Nhưng chỉ cần nước đọng lâu sau vài trận mưa, nước sẽ len xuống lớp vữa cán, đi theo mao mạch bê tông rồi hiện thành vệt ố vàng ở trần dưới, bong sơn, mốc góc phòng, nặng hơn là chập hệ thống điện âm trần.
Tôi đã xử lý nhiều ca sàn mái mới đổ chưa đầy một năm đã thấm. Có công trình dùng vật liệu không tệ, nhưng nền làm quá ẩu: bụi xi măng chưa hút sạch, ba-vớ chưa đục, cổ ống thoát sàn không đục mở để trám lại, chân tường không bo góc, sàn thì gần như không có độ dốc. Cũng có nhà thợ quét xi măng dầu hai ba lớp rồi lát gạch ngay. Lúc bàn giao nhìn khô ráo, tưới nước thấy vẫn ổn. Nhưng xi măng dầu là lớp cứng, không chịu nổi co giãn nhiệt. Mặt sàn có ngày nóng lên khoảng 50-60°C, tối gặp mưa lạnh đột ngột, lớp hồ dầu rạn ra, nước lại đi xuống như cũ.
Muốn chống thấm sàn mái bê tông bền thì không thể chỉ quét thêm một lớp hóa chất lên mặt sàn. Phải tìm đúng đường nước đi: vết nứt, chân tường, cổ ống thoát sàn, điểm đọng nước và các mí vật liệu bị hở. Nền còn bụi, còn bở hoặc độ ẩm quá cao mà thi công ngay thì lớp chống thấm chỉ che tạm bề mặt. Qua một hai mùa mưa, lỗi sẽ lộ ra.
Nguyên nhân khiến chống thấm sàn mái bê tông hay thất bại
Bê tông sàn mái không đặc chắc ngay từ đầu
Sàn mái thường là hạng mục thi công cuối nên nhiều đội làm khá vội. Bê tông trộn dư nước cho dễ đổ, đầm dùi không kỹ, bảo dưỡng sau đổ không đủ ngày hoặc để nắng chiếu trực tiếp quá sớm đều làm mặt bê tông yếu. Khi bề mặt đã rỗ, bở, nhiều mao mạch, nước mưa không cần vết nứt lớn vẫn có thể ngấm dần xuống dưới.
Khi khảo sát sàn mái nhà phố, tôi thường gõ thử bằng búa nhỏ, nhìn màu bê tông sau khi mài và kiểm tra các vị trí rỗ tổ ong. Chỗ nào cát nổi nhiều, gõ nghe bộp, hoặc lớp vữa cán tách khỏi nền thì phải đục bỏ tới phần chắc rồi trám lại bằng vữa sửa chữa phù hợp. Nếu bỏ qua bước này, lớp màng chống thấm bám lên một nền yếu. Nền bong thì màng cũng bong, lúc đó vật liệu tốt mấy cũng không cứu được.
Nứt co ngót nhiệt trên sàn mái bê tông
Sàn mái là khu vực chịu biên độ nhiệt lớn nhất trong nhà. Ban ngày nóng, ban đêm hạ nhiệt, gặp mưa thì nhiệt độ mặt sàn giảm rất nhanh. Bê tông, lớp vữa cán và lớp hoàn thiện bên trên co giãn không đồng đều, từ đó sinh ra nứt chân chim. Những vết nứt dưới 0,3mm nhìn rất nhỏ, nhưng nếu nước đọng lâu thì vẫn hút nước mạnh.
Với vết nứt tĩnh, có thể cắt rãnh chữ V rộng khoảng 5-10mm, sâu 10-15mm, hút bụi sạch rồi trám bằng keo PU, epoxy hoặc vữa sửa chữa gốc polymer. Với vết nứt còn chuyển vị, nên dùng hệ chống thấm có độ đàn hồi như Polyurethane hoặc acrylic đàn hồi. Không nên chỉ quét vữa xi măng cứng lên trên rồi hy vọng nó tự kín lâu dài.
Chống thấm sàn mái bê tông không xử lý độ dốc
Một lỗi gặp rất nhiều là sàn mái phẳng quá. Sau mưa, nước đọng thành vũng ở giữa sàn hoặc sát chân tường. Vật liệu chống thấm dù tốt vẫn bị giảm tuổi thọ nếu bị ngâm nước liên tục, nhất là những hệ không thiết kế để chịu ngâm lâu ngày.
Độ dốc sàn mái nên đạt khoảng 1,5-2% về phía phễu thu. Nói dễ hiểu, cứ 1m chiều dài cần chênh cao khoảng 1,5-2cm. Nếu mái rộng, nên chia nước về nhiều phễu thu, không nên bắt nước chạy quá xa. Khi nghiệm thu, đừng chỉ nhìn bằng mắt. Nên tưới nước hoặc ngâm thử để xem nước có thoát hết không, có điểm nào tụ lại sát chân tường không.
Cổ ống thoát sàn xử lý sơ sài
Cổ ống là điểm thấm nhiều nhất trên sân thượng. Ống nhựa PVC và bê tông là hai vật liệu khác nhau, độ co giãn khác nhau. Nếu lúc đổ sàn chỉ chừa lỗ rồi nhét vữa quanh ống, sau một thời gian khe tiếp giáp sẽ hở. Nước mưa theo khe này đi xuống trần rất nhanh, nhiều khi nhìn trên mặt sàn không thấy gì bất thường.
Cách làm chắc hơn là đục mở quanh cổ ống thành rãnh, vệ sinh sạch bụi, trám bằng vữa không co ngót hoặc keo PU, sau đó gia cố thêm lưới sợi thủy tinh và phủ chống thấm trùm lên cổ ống. Miệng phễu thu phải thấp hơn mặt sàn hoàn thiện. Nếu phễu thu cao hơn nền, nước sẽ bị giữ lại quanh miệng phễu, lâu ngày rất dễ thấm ngược.

So sánh vật liệu chống thấm sàn mái bê tông phổ biến
Không có loại vật liệu nào dùng tốt cho mọi sàn mái. Chọn vật liệu chống thấm sàn mái phải nhìn hiện trạng nền, mức độ nứt, sàn có lát gạch hay để lộ thiên, mái có đi lại thường xuyên không và ngân sách của chủ nhà. Dưới đây là ba nhóm vật liệu hay dùng nhất khi thi công chống thấm sân thượng bê tông.
| Giải pháp | Vật liệu thường dùng | Ưu điểm | Nhược điểm | Tuổi thọ tham khảo | Giá thành ước tính |
|---|---|---|---|---|---|
| Màng gốc Polyurethane PU | Mariseal 250, Neoproof PU, Sikalastic 590 tùy hệ | Đàn hồi tốt, che phủ được vết nứt nhỏ, phù hợp sàn mái co giãn nhiệt mạnh | Yêu cầu nền khô, sạch; dễ phồng nếu nền ẩm hoặc dùng sai primer; giá cao hơn hệ xi măng | 7-12 năm nếu thi công đúng và có lớp bảo vệ | Khoảng 280.000-450.000đ/m² |
| Gốc xi măng đàn hồi 2 thành phần | Sikatop Seal 107, vữa chống thấm gốc xi măng polymer | Bám tốt trên nền bê tông, dễ thi công, phù hợp khu vực có cán vữa hoặc lát gạch bảo vệ | Độ đàn hồi kém hơn PU; không nên để lộ thiên lâu dưới nắng gắt nếu không có lớp bảo vệ | 5-8 năm tùy nền và lớp hoàn thiện | Khoảng 180.000-320.000đ/m² |
| Màng bitum khò nóng 3mm | Màng bitum khò nóng dày 3mm, 4mm | Tạo lớp màng dày, chống nước tốt, dễ kiểm soát trên mặt bằng rộng | Cần thợ khò có tay nghề; dễ hở mí, cháy màng, phồng rộp nếu nền ẩm; khó xử lý nhiều cổ ống nhỏ | 6-10 năm nếu mí dán kín và có lớp bảo vệ | Khoảng 220.000-380.000đ/m² |
Chống thấm sàn mái bê tông bằng màng PU khi nào phù hợp?
Hệ PU phù hợp với sàn mái có nhiều vết nứt chân chim, thường xuyên co giãn nhiệt hoặc khu vực cần lớp màng đàn hồi tốt. PU có khả năng kéo giãn theo chuyển động nhỏ của nền, nên xử lý được nhiều tình huống mà vữa xi măng cứng dễ bị nứt lại.
Điểm cần giữ chặt là độ ẩm nền. Nhiều hệ PU yêu cầu độ ẩm bê tông dưới 8% hoặc dưới 10% tùy khuyến cáo hãng. Nếu nền còn ẩm mà quét vội, hơi nước đẩy lên sẽ làm màng phồng rộp. Trước khi dùng các hệ như Mariseal 250, Neoproof PU hoặc Sikalastic 590, nên đọc kỹ tài liệu kỹ thuật của hãng và thi công đúng định mức. Có thể tham khảo thêm tài liệu sản phẩm tại Sika Việt Nam để kiểm tra yêu cầu nền, lớp lót và thời gian chờ khô.
Chống thấm sàn mái bê tông bằng gốc xi măng 2 thành phần
Với sàn mái bê tông còn tương đối ổn, ít nứt, sau chống thấm sẽ cán vữa bảo vệ hoặc lát gạch, vữa chống thấm gốc xi măng polymer là phương án kinh tế và dễ kiểm soát. Sikatop Seal 107 là dòng vật liệu được dùng khá phổ biến cho nhóm này.
Khi thi công, phải trộn đúng tỷ lệ thành phần A/B. Không tự ý thêm nước cho dễ quét vì sẽ làm giảm hàm lượng polymer, lớp chống thấm yếu đi và dễ bột hóa. Nền cần được làm ẩm đến trạng thái bão hòa khô bề mặt, tức là có ẩm nhưng không đọng nước. Nếu nền hút nước quá nhanh, lớp vật liệu dễ mất nước và nứt.
Màng bitum khò nóng cho sàn mái rộng
Màng bitum khò nóng 3mm hợp với mái rộng, ít chi tiết, ít cổ ống và mặt bằng thi công thoáng. Ưu điểm là lớp màng dày, nhìn được mí chồng, dễ kiểm tra bằng mắt khi thợ khò đúng tay nghề. Nhưng nếu nền còn ẩm, khò không đều hoặc mí chồng không kín, màng dễ phồng và tách lớp.
Với sân thượng nhiều chân tường, hộp kỹ thuật, ống xuyên sàn, chân bồn nước, cần cân nhắc kỹ. Càng nhiều chi tiết thì càng nhiều điểm phải cắt, dán, khò, bo mí. Chỉ một mí hở nhỏ cũng đủ để nước luồn bên dưới lớp màng.
Quy trình chống thấm sàn mái bê tông 5 bước tại công trình
Một quy trình chống thấm bê tông đúng không bắt đầu từ lúc mở thùng vật liệu. Nó bắt đầu từ lúc kiểm tra nền. Ở công trình, tôi thường nhắc đội thợ một câu rất đơn giản: nền chưa đạt thì chưa quét. Quét lên nền bẩn, nền bở, nền ẩm cao chỉ làm bề mặt trông đẹp lúc bàn giao, còn rủi ro thì chủ nhà lãnh sau mùa mưa.
Bước 1: Xử lý bề mặt trước khi chống thấm sàn mái bê tông
Trước tiên phải dọn sạch vật cản, lớp hồ dầu cũ, rong rêu, bụi xi măng và vữa rơi. Dùng máy mài sàn để mở bề mặt bê tông, loại bỏ lớp yếu và tạo nhám. Các cục ba-vớ, cạnh sắc, vữa thừa quanh chân tường phải đục tẩy hết. Bề mặt càng sạch và chắc thì lớp chống thấm càng bám tốt.
Vết nứt cần được đánh dấu trước khi quét. Không quét phủ qua loa lên vết nứt. Với vết nứt nhỏ, cắt rãnh chữ V rồi hút bụi sạch. Sau đó trám bằng keo PU, epoxy phù hợp hoặc vữa sửa chữa gốc polymer. Khu vực bê tông rỗ tổ ong phải đục bỏ phần yếu, tưới ẩm theo yêu cầu vật liệu rồi vá lại.
Chân tường, chân tum, chân lan can cần vát góc 45 độ. Kích thước len thường dùng là 3x3cm hoặc 5x5cm tùy hiện trạng. Góc vuông 90 độ là chỗ màng chống thấm dễ bị gãy, đọng vật liệu không đều và nứt lại theo mép. Bo góc giúp lớp màng chạy liên tục từ mặt sàn lên tường.
Chiều cao quét chống thấm lên chân tường nên tối thiểu 20-30cm tính từ mặt sàn hoàn thiện. Nếu khu vực thường xuyên bị mưa tạt, có bồn cây hoặc bồn nước gần tường, nên nâng cao hơn.

Bước 2: Quét lớp lót Primer tăng bám dính
Sau khi nền đạt yêu cầu, cần kiểm tra độ ẩm trước khi thi công lớp lót. Với hệ PU, nên đo độ ẩm nền theo khuyến cáo vật liệu, thường dưới 8% hoặc dưới 10%. Nếu không có máy đo, tối thiểu phải đảm bảo sàn khô thật, không còn hơi ẩm đẩy lên. Tuy vậy, cách nhìn bằng mắt chỉ là kinh nghiệm, không thay thế được đo đạc.
Primer có nhiệm vụ khóa bụi mịn còn sót lại và tăng bám dính giữa bê tông với lớp chống thấm chính. Không nên bỏ primer để tiết kiệm vài chục nghìn mỗi mét vuông. Một số lỗi hay gặp là quét primer quá dày làm đọng vũng, hoặc quét xong để quá lâu ngoài bụi rồi mới phủ lớp chính. Thời gian chờ khô thường khoảng 2-6 giờ, tùy vật liệu, nhiệt độ và độ ẩm không khí.
Với hệ xi măng đàn hồi 2 thành phần, có loại không cần primer riêng nhưng vẫn cần làm ẩm nền đúng cách. Nền ẩm vừa đủ giúp vật liệu bám tốt hơn. Nền đọng nước thì không được, còn nền khô rang lại hút nước quá nhanh, làm lớp chống thấm dễ bị bột hóa.
Bước 3: Gia cố cổ ống, góc chân tường bằng lưới sợi thủy tinh
Các vị trí cần gia cố gồm cổ ống thoát sàn, phễu thu, góc chân tường, khe tiếp giáp sàn – tường, chân hộp kỹ thuật, chân bồn nước và những đường nứt đã xử lý. Dùng lưới sợi thủy tinh fiberglass mesh hoặc lớp gia cường chuyên dụng đặt vào giữa hai lớp vật liệu.
Cách làm tại công trình không phức tạp nhưng phải kỹ: quét một lớp chống thấm mỏng lên khu vực cần gia cố, đặt lưới khi vật liệu còn ướt, dùng bay hoặc ru-lô ép cho lưới nằm phẳng, không nhăn, không rỗng khí. Sau đó phủ tiếp lớp vật liệu lên trên. Lưới cần ôm qua góc, trùm lên cổ ống và lan ra xung quanh tối thiểu 10-15cm mỗi bên.
Nhiều đội thợ chỉ quét mặt sàn, bỏ qua lưới ở góc và cổ ống. Lúc thử nước có thể chưa thấm ngay, nhưng sau vài chu kỳ nắng mưa, góc chân tường nứt lại, cổ ống hở lại. Muốn sửa lúc đó phải đục lớp bảo vệ hoặc gạch hoàn thiện, chi phí đội lên rất nhanh.

Bước 4: Thi công 2-3 lớp chống thấm chính
Tùy hệ vật liệu, sàn mái sẽ được thi công 2 hoặc 3 lớp chống thấm chính. Nguyên tắc là lớp sau quét vuông góc với lớp trước để giảm nguy cơ bỏ sót lỗ kim. Nếu lớp đầu quét theo chiều ngang thì lớp sau nên quét theo chiều dọc. Không nên quét quá dày một lượt vì bề mặt có thể khô trước nhưng bên trong còn ẩm, dễ nứt, nhăn hoặc phồng.
Với Sikatop Seal 107 hoặc vữa chống thấm gốc xi măng 2 thành phần, cần trộn đúng tỷ lệ theo hướng dẫn. Dùng máy khuấy tốc độ chậm để tránh cuốn bọt khí. Sau khi trộn, dùng trong thời gian cho phép. Không để vật liệu bắt đầu đông rồi thêm nước khuấy lại. Mỗi lớp thường chờ khoảng 4-8 giờ tùy thời tiết.
Với Sikalastic 590, Mariseal 250, Neoproof PU hoặc các hệ PU/acrylic đàn hồi, phải kiểm soát định mức kg/m². Quét quá mỏng thì không đủ chiều dày màng khô; quét quá dày trong một lớp thì dễ lỗi bề mặt. Những ngày trời sắp mưa, độ ẩm không khí cao, không nên cố làm cho kịp tiến độ. Một cơn mưa khi màng chưa khô có thể làm hỏng cả mảng.
Điểm cần soi kỹ là chân tường và mí quanh phễu thu. Lớp chống thấm phải liên tục, không đứt đoạn. Nếu chống thấm xong rồi khoan bắt chân bồn nước, chân đỡ năng lượng mặt trời xuyên qua màng mà không xử lý lại, coi như tự mở đường cho nước.

Bước 5: Ngâm thử nước 48 giờ và cán vữa bảo vệ
Sau khi lớp chống thấm chính khô đạt yêu cầu, tiến hành bịt phễu thu và ngâm thử nước. Thời gian thử nước nên từ 24-48 giờ; với sàn mái nhà ở, tôi thường khuyến nghị 48 giờ nếu điều kiện cho phép. Mực nước thử cần đủ phủ các điểm nghi ngờ, nhất là chân tường và cổ ống. Trong thời gian này phải kiểm tra trần bên dưới, mép dầm, hộp kỹ thuật và khu vực quanh ống.
Nếu phát hiện thấm, phải xả nước, để khô, xác định điểm lỗi rồi xử lý lại. Không được cán vữa che lên với suy nghĩ “lớp trên sẽ ép lại”. Chống thấm lỗi mà bị che bằng vữa hoặc gạch thì sau này dò điểm thấm rất mất công.
Sau khi thử nước đạt, cán vữa bảo vệ tạo dốc. Lớp vữa này giúp chống tia UV, chống va đập cơ học và bảo vệ màng khi đi lại hoặc đặt thiết bị. Vữa cán nên tạo dốc 1,5-2% về phễu thu. Nếu lát gạch sân thượng, cần chọn keo dán gạch hoặc vữa phù hợp, chà ron kỹ và không xem lớp gạch là lớp chống thấm chính. Gạch chỉ là lớp hoàn thiện; nước vẫn có thể đi qua ron nếu bên dưới không được xử lý đúng.
Sai lầm thường gặp khi chống thấm sàn mái bê tông
Quét chống thấm khi nền còn bụi hoặc còn ẩm cao
Bụi xi măng là lớp ngăn giữa bê tông và vật liệu. Nhìn bằng mắt có thể thấy sạch, nhưng lấy tay xoa vẫn ra bột trắng thì chưa đạt. Với hệ PU, nền ẩm cao còn gây phồng rộp. Bề mặt phồng như da cam sau vài ngày thường là dấu hiệu hơi ẩm đẩy màng lên.
Không xử lý vết nứt trước khi quét
Vết nứt là đường nước có sẵn. Nếu chỉ quét phủ, lớp màng mỏng phía trên phải chịu toàn bộ chuyển vị của nền. Với nứt hoạt động, nên gia cường bằng lưới hoặc dùng vật liệu đàn hồi phù hợp. Không xử lý nứt mà đòi bảo hành lâu dài là chuyện khó.
Bỏ qua chân tường và cổ ống
Mặt sàn rộng thường ít thấm hơn các điểm tiếp giáp. Chân tường không bo góc, cổ ống không đục xử lý lại, phễu thu đặt cao hơn mặt sàn là những lỗi khiến nước tìm được đường xuống rất nhanh. Khi giám sát, chủ nhà nên kiểm tra kỹ các điểm này trước khi cho thợ quét đại trà.
Thi công một lớp thật dày thay vì nhiều lớp đúng định mức
Vật liệu chống thấm cần đủ chiều dày màng khô, nhưng không có nghĩa là đổ dày một lần. Làm vậy dễ nứt bề mặt, lâu khô, kẹt ẩm. Đúng kỹ thuật là chia 2-3 lớp, mỗi lớp đủ định mức, chờ khô rồi mới thi công lớp tiếp theo.
Không thử nước trước khi cán vữa hoặc lát gạch
Đây là lỗi rất tốn tiền. Chưa thử nước mà đã cán vữa, lát gạch, đặt bồn nước thì nếu thấm phải đục lên tìm lỗi. Thử nước 24-48 giờ là bước bắt buộc, không phải thủ tục cho có.
Tin tuyệt đối vào bảo hành miệng
Chống thấm phải có biên bản nghiệm thu, ghi rõ hệ vật liệu, số lớp, khu vực thi công, thời gian thử nước và điều kiện bảo hành. Bảo hành không thể bao gồm các lỗi phát sinh do khoan cắt sau bàn giao, lắp thiết bị xuyên màng hoặc cải tạo làm hỏng lớp bảo vệ.
Giá chống thấm sàn mái bê tông trọn gói tham khảo
Giá chống thấm sàn mái phụ thuộc vào hiện trạng nền, diện tích, số lượng cổ ống, có phải đục lớp cũ không, dùng hệ vật liệu nào và có cán vữa bảo vệ hay không. Bảng dưới đây chỉ để chủ nhà dự trù ngân sách trước khi khảo sát thực tế.
| Hạng mục thi công | Phạm vi công việc | Đơn giá tham khảo |
|---|---|---|
| Chống thấm gốc xi măng đàn hồi 2 thành phần | Vệ sinh, xử lý nền cơ bản, quét 2 lớp vật liệu như Sikatop Seal 107 hoặc tương đương | 180.000-320.000đ/m² |
| Chống thấm màng PU/acrylic đàn hồi | Mài nền, primer, gia cố điểm yếu, thi công 2-3 lớp vật liệu như Sikalastic 590, Mariseal 250, Neoproof PU hoặc tương đương | 280.000-450.000đ/m² |
| Chống thấm màng bitum khò nóng 3mm | Vệ sinh nền, quét lót bitum, khò màng, xử lý mí chồng và chân tường | 220.000-380.000đ/m² |
| Xử lý vết nứt, cổ ống phức tạp | Đục mở, trám keo/vữa không co ngót, gia cố lưới | Tính theo vị trí hoặc báo sau khảo sát |
| Cán vữa bảo vệ tạo dốc | Cán vữa bảo vệ lớp chống thấm, tạo dốc 1,5-2% về phễu thu | 120.000-220.000đ/m² |
Với diện tích nhỏ dưới 20m², đơn giá thường cao hơn vì chi phí nhân công, vận chuyển và hao hụt vật tư không giảm nhiều. Với sàn mái đang lát gạch cũ, cần bóc gạch, đục vữa và vận chuyển xà bần thì phải tính thêm phần phá dỡ. Trường hợp cần đục phá nền bê tông hoặc mở rộng cổ ống nhiều vị trí, chủ nhà có thể tham khảo thêm hạng mục khoan cắt, đục phá nền sàn bê tông để dự trù chi phí phát sinh.
Một báo giá chống thấm rõ ràng nên có tối thiểu các mục:
- Hiện trạng nền: bê tông trần, vữa cán, gạch cũ, có đọng nước hay không.
- Hệ vật liệu sử dụng: PU, xi măng đàn hồi 2 thành phần hay màng bitum.
- Số lớp thi công và định mức vật liệu.
- Phạm vi xử lý chân tường, cổ ống, vết nứt.
- Có bao gồm thử nước 24-48 giờ không.
- Có bao gồm cán vữa bảo vệ tạo dốc không.
- Thời gian bảo hành và điều kiện bảo hành.
Nếu sàn mái đã thấm lâu, trần dưới bị bong sơn, tường mốc hoặc phải sửa lại nhiều hạng mục liên quan, nên xem đây là một phần của công việc sửa chữa tổng thể. Bạn có thể tham khảo thêm dịch vụ sửa nhà chống thấm triệt để để hiểu rõ hơn cách xử lý đồng bộ giữa mái, tường, nhà vệ sinh và các khu vực ẩm.
Checklist nghiệm thu chống thấm sàn mái bê tông trước bàn giao
Trước khi nhận bàn giao, đừng chỉ nhìn bề mặt thấy đẹp là ký. Chủ nhà nên kiểm tra nhanh theo các mục dưới đây:
- Sàn đã được mài, vệ sinh sạch bụi, không còn lớp bở yếu.
- Vết nứt đã được cắt chữ V, trám kín, không quét phủ qua loa.
- Chân tường đã vát góc 45 độ, len 3x3cm hoặc 5x5cm tùy vị trí.
- Cổ ống thoát sàn đã được đục xử lý, trám kín và gia cố lưới.
- Lớp chống thấm được thi công tối thiểu 2 lớp, hướng quét đổi chiều.
- Không có điểm phồng rộp, bong mép, rỗ khí, hở mí.
- Đã ngâm thử nước 24-48 giờ và kiểm tra trần bên dưới.
- Vữa bảo vệ hoặc lớp hoàn thiện có độ dốc 1,5-2% về phễu thu.
- Sau bàn giao, mọi vị trí khoan cắt, lắp chân đỡ, đặt bồn nước phải được xử lý chống thấm bổ sung.
Sàn mái nên được kiểm tra lại trước mùa mưa: dọn rác ở phễu thu, kiểm tra ron gạch, chân tường, chân bồn nước và các vị trí từng khoan bắt thiết bị. Nếu đang cải tạo nhà cũ hoặc sửa sân thượng cùng lúc với các hạng mục khác, nên làm chống thấm trước khi hoàn thiện. Trường hợp cần sửa chữa nhiều khu vực trong nhà, bạn có thể xem thêm dịch vụ sửa nhà tại TPHCM để lên kế hoạch thi công gọn hơn, tránh làm xong phần này lại đục phá phần kia.








